Trang

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Lời tựa

Trong giới biên khảo, sử gia giữ một địa vị đặc biệt, vì sức làm việc phi thường của họ. Họ kiên nhẫn, cặm cụi hơn hết thảy các nhà khác, hi sinh suốt đời cho văn hoá không màng danh vọng, lợi lộc, bỏ ra từ ba đến năm chục năm để lập nên sự nghiệp. Họ đọc sách nhiều, du lịch nhiều, suy tư nhiều, và nếu họ có ít thành kiến, thì tác phẩm của họ càng lâu đời càng có giá trị, hiện nay ở phương Tây, loại sách về sử được phổ biến rất rộng, có cái cơ muốn lấn át tiểu thuyết.
 
Chỉ trừ Ấn Độ, dân tộc lớn nào cũng có một số sử gia lớn. Trung Hoa có hai sử gia họ Tư Mã: Tư Mã Thiên (145-?...trước công nguyên) với bộ Sử kí bất hủ gồm 526.500 chữ, chép từ đời Hoàng Đế đến đời Hán Vũ Đế, và Tư Mã Quang (1019-1086) đời Tống với bộ Tư Trị Thông Giám, chép từ đời Chiến Quốc tới hết đời Ngũ Đại (gồm 1362 năm), ngày nào cũng viết hàng chục trang giấy, tới khi hoàn thành sau hai mươi lăm năm làm việc thì những tài liệu chép tay chứa đầy hai căn phòng.
 
Ả Rập có Abd-er-Rahman Ibn Khaldoun (thế kỉ XIV) trong năm chục năm vừa làm quan vừa viết bộ Thế giới sử mà Toynbee khen là “tác phẩm lớn nhất trong loại đó ở bất kỳ thời đại nào, trong bất kỳ xứ nào”.
 
Pháp có Augustin Thierry (1795-1856) nghiên cứu sử 40 năm, tới loà mắt mà vẫn tiếp tục làm việc, không viết được thì đọc cho người khác chép. Đồng thời với ông có Michelet bỏ ra ba mươi năm soạn bộ Sử Pháp gồm 28 cuốn.
 
Anh có Gibbon (1737-1794) bỏ ra 17 năm soạn bộ sử danh tiếng Thời suy sụp của đế quốc La Mã. Đức có Spengler (1880-1936) tác giả của bộ Thời tàn của phương Tây. Ở nước ta chưa có sử gia nào so sánh với những nhà đó được, nhưng Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú vẫn còn đáng làm gương cho chúng ta và nếu được sanh ra ở một nước như Trung Hoa chẳng hạn thì sự nghiệp hai vị đó chưa chắc đã kém ai.
 
Hiện nay hai sử gia nổi danh nhất thế giới là Toynbee (1889…) với bộ A Study of History (Khảo luận về Sử) và Will Durant với bộ The Story of Civillisation (Lịch sử Văn minh). Toynbee là một sử triết gia, có phần sâu sắc hơn Durant, Durant cổ điển hơn, nhằm mục đích phổ biến hơn, như H.G. Wells, tác giả bộ Lịch sử Thế giới, nhưng công trình của ông lớn lao hơn của Wells nhiều, và mặc dầu tính cách khác nhau, đáng được đặt ngang hàng với công trình của Toynbee.


*
*        *


William James Durant (thường gọi là Will Durant) sanh năm 1885 (hơn Toynbee 4 tuổi) ở North Adams, tiểu bang Massachusettes, trong một gia đình gốc Pháp – Gia Nã Đại, đậu cử nhân triết ở trường Saint Peter, làm phóng viên cho tờ New York Evening Journal, rồi tuân theo lời cha mẹ vô Chủng viện Seton Hall học thêm bốn năm nữa, nhưng tự xét không hợp với với nghề mục sự, ông thôi học, ra làm hiệu trưởng trường Labor Temple School ở New York, tại đó ông dạy triết và sử trong mươi ba năm cho những người lớn có nghề nghiệp muốn trau giồi thêm kiến thức. Hạng học viên đó chỉ chịu ngồi nghe nếu bài giảng hấp dẫn, ông phải soạn bài thật kĩ, bỏ những chi tiết rườm, nhấn mạnh vào những điểm chính, tổng hợp lại cho họ nắm được đại cương, nhờ vậy ông luyện được một lối trình bày sáng sủa, giản dị.
 
Đồng thời, ông học thêm về sinh lí và triết học ở Đại học Columbia, đậu Tiến sĩ Triết năm 1917, rồi dạy Triết cũng ở Đại học đó một năm.

Bài soạn của ông rất được hoan nghênh; ông gom lại một số, in thành cuốn The Story of Philosophy (Lịch sử Triết học) bán rất chạy, chỉ trong ba năm, nội các nước nói tiếng Anh đã tiêu thụ được hai triệu cuốn, rồi sau được dịch ra tiếng Pháp, Ý, Đức, Nhật, Trung Hoa, Y Pha Nho, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Đan Mạch, Do Thái… Ở nước ta, nghe nói có người cũng đương dịch. Thấy thành công, ông quyết tâm chuyên sống bằng cây viết.


Từ năm 1915, sau khi đọc cuốn Introduction to the History of Civilisation  sử gia Anh Buckle viết chưa xong thì chết, ông đã có hoài bảo tiếp tục công việc đó, nên vừa soạn luận án tiến sĩ ở Đại học Columbia vừa kiếm tài liệu cho bộ Lịch sử Văn minh của ông.
Mười bốn năn sau, năm 1929, ông và bà (nhũ danh là Ariel, một cựu học sinh của ông) mới đem hết tâm trí ra thực hiện hoài bảo chung.


Mục đích của ông bà là tìm hiểu xem tài năng và sức lao động của con người đã giúp cho văn hoá của nhân loại được những gì, óc phát minh nảy nở và tiến bộ ra sao, đạt được những kết quả nào trong mọi khu vực: chính trị, kinh tế, tôn giáo, luân lí, văn học, khoa học, triết học, nghệ thuật; tóm lại vạch rõ những bước tiến của văn minh nhân loại.


Ông cho rằng từ trước các sử gia phương Tây rất ít chú trọng đến văn minh phương Đông, đó là một khuyết điểm lớn:


“Chúng ta sẽ ngạc nhiên nếu được biết tất cả các món nợ tinh thần của chúng ta đối với Ai Cập và phương Đông; nợ về các phát minh hữu ích cũng như về tổ chức chính trị, kinh tế, về khoa học, văn chương, triết học, tôn giáo. Hiện nay châu Á tràn trề một sinh lực mới, càng ngày càng mau đuổi kịp châu Âu và chúng ta có thể đoán trước rằng vấn đề quan trọng của thế kỷ XX sẽ là sự xung đột giữa Đông và Tây; vậy thì viết sử mà hẹp hòi, theo truyền thống cũ, bắt đầu bằng sử Hy Lạp, chỉ chép vài hàng về sử châu Á (…) thì là thiển cận, thiếu hiểu biết, hậu quả có thể tai hại. Tương lai ở phía Thái Bình Dương và chúng ta phải hướng cặp mắt và trí óc về phía đó”.


Lời đó viết năm 1935 trong khi Đức, Ý đương cường thịnh, Anh chưa suy, mà Ấn Độ và Trung Hoa còn là thuộc địa hoặc bán thuộc địa của Âu, quả thật là một nhận định sáng suốt, đáng coi là một lời tiên tri.


Vì có chủ trương đó, ông mấy lần du lịch khắp thế giới (năm 1927 du lịch châu Âu, năm 1930 đi vòng quanh thế giới để tìm hiểu Ai Cập, Tây Á, Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản; năm 1932 lại du lịch Nhật Bản, Mãn Châu, Tây Bá Lợi Á, Nga và Ba Lan; năm 1948 du lịch Thổ Nhĩ Kỳ, Irak, Ba Tư, Ai Cập, ấy là chưa kể nhiều cuộc du lịch khác ở Ý, Pháp, Y Pha Nho…), bỏ ra tám năm nghiên cứu về phương Đông và mở đầu bộ sử bằng lịch sử phương Đông.


Bố cục tác phẩm như sau:


1. Di sản phương Đông: văn minh Ai Cập và Cận Đông (tức Tây Á) cho tới khi Đại đế Alexandre của Hi Lạp mất; sử Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản cho tới đầu thế chiến vừa rồi.
2. Di sản cổ điển của phương Tây: văn minh Hi Lạp, La Mã và miền Cận Đông dưới thời đô hộ của Hi lạp và La Mã.


3. Di sản thời Trung cổ: châu Âu theo Kitô giáo và châu Âu thời Trung cổ, văn minh Byzane, văn minh Ả Rập và Do Thái ở châu Á, châu Phi và Y Pha Nho, thời Phục hưng Ý.
4. Di sản của châu Âu: sử văn minh các quốc gia châu Âu từ thời Cải cách tới thời Cách mạng Pháp.


5. Di sản của châu Âu hiện đại: các phát minh khoa học, chính trị, triết lí, luân lí, văn học, nghệ thuật từ Napoléon tới ngày nay.


Nhưng ông bà chỉ thực hiện được bốn phần trên, và ngừng lại ở ngày 14-7-1789, ngày 8.000 dân Paris kéo nhau lại phá ngục Bastille.


Ông bà biết rằng ngừng lại ở lúc nhân loại bắt đầu vào một giai đoạn có rất nhiều biến cố lớn lao về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, khoa học, triết học, văn học… là điều vô lí; nhưng ông bà nhớ rằng mình đã quá già rồi (ông đã 80 tuổi), nên xin nhường công việc viết tiếp cho lớp người trẻ hơn, mà chỉ soạn thêm một cuốn khoảng 200 trang để thay phần kết, gom những nhận xét cùng suy tư của ông bà về lịch sử văn minh. Cuốn đó nhan đề là Bài học của lịch sử

 
Ông biết rằng công trình phân tích và tổng hợp mấy ngàn năm lịch sử nhân loại đó lớn lao quá, một người làm thì thế nào cũng lầm lẫn nhiều mà sẽ trở thành cái đích cho các nhà chuyên môn trong từng ngành tha hồ chỉ trích. Ông nhớ lời khuyên của Ptahhotep năm ngàn năm trước: “Trong một hội nghị, sẽ có một nhà chuyên môn chỉ trích anh đấy. Có điên thì mới nói lan man về mọi vấn đề”. 

Mà thực vậy, có người thấy ông khởi công đã cho ông là điên, ngờ rằng ông làm không xong hoặc chẳng ra cái quái gì cả. Nhưng ông cứ can đảm bước tới, tin chắc rằng phải có một công trình tổng hợp văn minh để nhân loại hiểu sự quí báu của văn minh, nó là di sản của mọi dân tộc chứ chẳng của riêng dân tộc nào. “Lịch sử nhân loại như một dòng sông đôi khi đầy máu và xác những người chém giết nhau, cướp bóc lẫn nhau; mà các sử gia chỉ thường chép những hành động đó thôi. Nhưng trên bờ còn có những người khác cất nhà, làm vườn, nuôi con, làm thơ”. Các sử gia khác bi quan vì không nhìn lên bờ; ông sẽ chép công việc của những người xây cất trên bờ. Việc phải làm thì làm, nếu cầu toàn thì không khi nào nên việc và hai ông bà hăng hái làm việc mỗi ngày tới mười bốn giờ.


Nhưng như thế không có nghĩa rằng ông không thận trọng. Trái lại, như trên tôi đã nói, ông di du lịch và nghiên cứu tám năm để tìm hiểu tâm hồn người phương Đông; viết xong về sử phương Đông ông lại nhờ các nhà chuyên về phương Đông coi lại bản thảo, chẳng hạn nhờ ông Ananda, Coomaraswamy ở Viện Mĩ thuật Boston đọc phần về Ấn Độ, nhờ giáo sư H.H. Gowen ở Đại học Washington và ông Upton Close coi lại hai phần về Trung Hoa và Nhật Bản.


Mặc dù vậy, ông vẫn nhận rằng tác phẩm không thể nào hết lỗi mà chỉ một mình ông chịu trách nhiệm. Và trong lời Mở đầu của toàn bộ, ông xin lỗi trước các học giả Do Thái, Ả Rập, Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản nếu những điều ông viết về Yahveh, Allah, về triết lí Ấn Độ, Trung Hoa, về văn minh Nhật Bản không làm vừa ý họ vì sơ lược quá.


Vợ con ông phải tiếp tay với ông. Gia đình ông ở Los Angeles, trên một ngọn đồi cao nhìn xuống Hollywood. Hai ông bà, mỗi người có một phòng nghiên cứu riêng và một phòng làm việc chung. Tài liệu nào, ông đọc xong rồi cũng đưa bà đọc, mỗi người cùng ghi chép, suy nghĩ, sau họp nhau để so sánh, bàn bạc rồi mới viết. Cứ theo các bảng Thư mục của ông thì ông bà đã tra cứu khoảng 4000-5000 bộ sách để gom góp tài liệu. Cô con gái, Ethel, giúp ông bà trong việc tìm tài liệu, ghi xuất xứ và đánh máy bản thảo.


Ông vạch trước chương trình cho mấy chục năm, giữ đúng được lời hứa với nhà xuất bản, cứ đúng ngày là giao bản thảo, không hề trễ. Thật đáng phục.


Bản tiếng Anh gồm mười cuốn: cuốn đầu về di sản phương Đông soạn xong năm 1935 (mất 6 năm), cuốn thứ hai về Hi Lạp xong năm 1939 (4 năm), từ đó cứ 3 hay 4 năm xong một cuốn đến năm 1965 trọn bộ.


Cuốn đầu ra rồi, không ai còn nghi ngờ khả năng của ông nữa, và khi cuốn cuối in xong, ai cũng phải phục ông: sự nghiệp của ông ngang hàng với sự nghiệp các sử gia danh tiếng của nhân loại; cuốn thứ ba: César và Ki Tô viết rất hay, tổng hợp rất khéo; các cuốn về văn minh phương Tây thời Cận đại, tài liệu rất dồi dào, soạn rất công phu: đời sống, hành vi cùng tư tưởng và sự nghiệp các danh nhân như Léonard de Vinci, Mozart, Voltaire, Rousseau, Goethe được chép lại rất đầy đủ, mỗi nhà từ 30 đến 100 trang.


Tác phẩm được hoan nghênh nhiệt liệt, các trường Đại học ở Mỹ đều khuyên sinh viên đọc để mở mang kiến thức. Nhà Payot ở Pháp đã nhờ sáu người dịch từ mười lăm năm trước; nhà Rencontre ở Lausanne (Thuỵ Sĩ) cuối năm 1970 mới in xong toàn bộ bản tiếng Pháp gồm 33 cuốn, như vậy mỗi cuốn bản tiếng Anh gồm ba hoặc bốn cuốn bản tiếng Pháp. 

 
Trước sau ông bà đã bỏ ra 39 năm (1929-1967) để thực hiện công trình, không kể những năm ông kiếm tài liệu khi còn học ở Đại học Columbia.

Trong non bốn chục năm đó, ông bà chỉ mong đến ngày viết xong được hàng cuối cùng để được nghỉ ngơi. Nhưng khi ngày đó tới thì ông bà lại thấy đời như trống rỗng: thiếu một mục đích là đời mất một hướng đi, một ý nghĩa. Ai đã cầm bút viết luôn mấy chục năm đều có tâm trạng đó: bỏ cây bút xuống là thấy buồn. Ta thấy nỗi buồn đó của ông bà trong lời chào chúng ta:


“Chúng tôi xin cảm ơn các vị đã theo dõi chúng tôi trong bao nhiêu năm nay, cùng đi một khúc đường hoặc trọn khúc đường với chúng tôi. Suốt thời gian đó, không lúc nào chúng tôi quên các vị đó cả. Bây giờ thì chúng tôi xin vĩnh biệt”.


*
*        *


Trong cuốn Bài học lịch sử, độc giả sẽ thấy trong đó những ý kiến của ông bà Durant về lịch sử, nhưng chúng tôi có thể thưa trước rằng: ông bà vào hàng những học giả có tinh thần nhân bản rất cao, không kỳ thị chủng tộc, ghét chiến tranh, ghét bọn thực dân xâm lăng mà ông gọi là bọn ăn cướp, bọn giặc biển vô liêm sỉ.

Viết sử thì không thể nào hoàn toàn khách quan được. Ta chỉ có thể đòi hỏi sử gia đừng có thành kiến và phải thận trọng thôi. Hai đức này Will Durant đều có cả.


Tôi xin lấy ví dụ cuốn ông viết về văn minh Ấn Độ. Để viết cuốn ấy, ông đã đọc khoảng trăm rưỡi bộ sách, dùng tài liệu nào, đều ghi xuất xứ, như trong chương Đời sống của dân Ấn, gồm ba mươi tám trang, ông dẫn 210 câu hoặc đoạn, dẫn đủ 210 xuất xứ, từ những sử gia đời cổ như Hérodote tới tác giả đời sau như Dubois, Barnett, và cả những nhà viễn du như Marco Polo, Pierre Loti… Gặp những ý kiến nào trái ngược nhau thì ông ghi hết, rồi đưa lời phán đoán của ông, và trong công việc này, ông luôn tỏ một tinh thần rộng rãi, không có thành kiến, chỉ sợ mình lầm lẫn:


“Chúng ta chỉ biết về bề ngoài như vậy thôi, khó mà đi sâu thêm nữa để đoán được tư cách, tình cảm của người Ấn, vì dân tộc nào cũng có đủ các đức và các tật, và các nhà nhận xét thường chỉ nhấn mạnh vào những đức hoặc tất nào để chứng minh thuyết của họ hoặc làm cho câu chuyện thêm vui”.


Ông nhắc ta hoài rằng:


“giám thức của mình có cái gì không vững, không chắc chắn, do truyền thống cùng ảnh hưởng xã hội chung quanh gây nên, mà xã hội nào cũng hẹp hòi, có thành kiến, như vậy khi phán đoán các dân tộc khác; hoặc phê bình nghệ thuật của họ theo tiêu chuẩn, thành kiến của mình thì làm sao khỏi bất công với họ được”.


Vậy ông cho chúng ta một bài học về đức khiêm tốn và bao dung. Có bao dung thì mới hiểu nhau được mà cùng nhau bảo tồn di sản văn minh chung, vì chỉ di sản đó mới đáng quý mà nó lại rất dễ bị tiêu diệt.


Ở đầu bộ, sau khi trình bày các điều kiện địa lý, chủng tộc, kinh tế, tâm lí… của văn minh, ông cảnh cáo chúng ta rằng một nền văn minh có thể bị tàn rụi vì nhiều nguyên nhân: một đại tai biến về địa chất hoặc một thay đổi đột ngột về khí hậu, một bịnh dịch lan tràn dữ dội mà không biết cách ngăn chặn, một sự khai thác quá mức làm cho đất đai cằn cỗi, một sự suy giảm về nguồn lợi thiên nhiên, một sự thay đổi về luân lí, trí tuệ, hậu quả của sự lao lực hoặc của một đời sống quá kích thích, truỵ lạc, một triết lí bi quan hoặc sự tập trung của cải vào một số người… cũng có thể làm hại cho văn minh. Dân tộc nào cũng vậy, nhờ sống khắc khổ mà thịnh lên rồi vì quá hưởng lạc mà suy tàn, bị tiêu diệt.
Nghe lời cảnh cáo đó chúng ta nhớ lời Valéry: “Bây giờ chúng ta biết rằng văn minh nào cũng có thể chết được” và chúng ta giật mình: trong những nguyên nhân kể trên, xã hội ta trong mấy chục năm nay, đã mắc phải biết bao nguyên nhân rồi mà có người còn vô tình hay cố ý đào thêm cái huyệt để tự chôn mình nữa, hô hào sự tàn sát, khuyến khích sự truỵ lạc, tập trung của cải vào một thiểu số khiến cho đại đa số mỗi ngày một điêu đứng, cạn hết sinh lực…


Gọi Toynbee là một sử triết gia thì phải gọi Durant là một sử luân lí gia, ông là người phương Tây mà rõ ràng có cái tinh thần sử gia Đông Á. Xin độc giả nghe ông phê bình đạo Khổng: 


“Chỉ trong đạo Ki-tô và đạo Phật chúng ta mới thấy có sự hùng tâm gắng nhân-văn-hoá cái bản chất của con người như đạo Khổng.


Ngày nay cũng như ngày xưa, dân tộc nào bị cái nạn giáo dục thiên về trí dục quá mà đạo đức suy đồi, tư cách của cá nhân cũng như tập thể kém quá thì không thể có phương thuốc nào công hiệu hơn là cho thanh niên được thấm nhuần đạo Khổng.


Nhưng chỉ một triết lí của Khổng học thôi, chưa đủ. Nó rất thích hợp với một quốc gia cần thoát khỏi cảnh hổn loạn, nhu nhược để lập lại trật tự, lấy lại sức mạnh, nhưng đối với một quốc gia cần cải tiến hoài để gianh đua trên trường quốc tế thì triết lí đó là một trở ngại”.


Một số thanh niên nước ta, chắc không ngờ tác giả mấy hàng đó là học giả của chính cái xứ sản xuất ra kẹo cao su để họ nhai tóp tép mà chê Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ là “quân tử Tàu”. Phải dung hoà được Đông và Tây, cũ và mới, chứ bỏ hết cái cũ thì cũng không hơn gì khư khư bám lấy cái cũ.

 
Một đặc điểm cuối cùng nữa nhưng không kém quan trọng là bộ sử của Durant hấp dẫn như tiểu thuyết: hễ đã đọc vài trang rồi thì phải đọc tiếp tới hết cuốn, thỉnh thoảng gặp một nhận xét thâm thuý, dí dõm, hoặc mỉa mai một cách tế nhị, và cuối mỗi phần luôn luôn có một vài trang tổng kết gọn, sáng mà đủ, giúp ta nhận định được những nét chính của mỗi nền văn minh và gợi cho ta rất nhiều suy tư và hoài cảm. Văn của ông sáng sủa, uyển chuyển có khí lực, nhiều câu cô động, cân đối như châm ngôn, có đoạn cảm xúc dào dạt như khi ông viết về J.J. Rousseau. Đáng là một đại bút.


*
*       *


Tác phẩm lớn quá, số độc giả nước mình còn ít, dù có người kiên tâm dịch trọn thì cũng không có nhà nào xuất bản nổi. Chẳng dịch trọn được thì ít nhất cũng dịch lấy một phần, và chúng tôi lựa phần đầu: Di sản của phương Đông, và trong phần này, chúng tôi bỏ những nền văn minh đã tắt: văn minh Ai Cập và Cận Đông, mà thêm vào nền văn minh của Ba Tư và Ả Rập vì hai nền văn minh này, cũng như văn minh Ấn Độ. Trung Hoa, Nhật Bản, sau mấy thế kỷ bị văn minh Ki-tô giáo lấn át, đương biến chuyển, cơ hồ như sau này có thể ảnh hưởng ngược lại tới nền văn minh phương Tây. Hiện nay nhiều học giả phương Tây, như Will Durant tiên đoán, quay trở về nghiên cứu phương Đông - ở Mỹ ngôn ngữ và văn minh Trung Hoa được đặt lên hàng đầu trong ngành cổ học. Chúng ta không phủ nhận những tiến bộ và ích lợi của khoa học, kỹ thuật phương Tây, nhưng chúng ta cũng là đương nạn nhân điêu đứng nhất, tủi nhục nhất của những tiến bộ đó, chúng ta đã thấy phương Tây có một lực lượng phi thường, lên được cung trăng, có thể làm cho địa cầu tan tành trong nháy mắt, mà họ không ổn định nổi chính xã hội của họ, lại gây thêm vô số xáo trộn, điêu tàn cho nhân loại.

 
Còn một lẽ nữa khiến chúng tôi lựa phần Di sản phương Đông. Thực là điều đáng thẹn, chúng ta là người phương Đông mà chỉ biết lờ mờ về văn minh phương Đông. Các nhà cựu học tuy thuộc tứ thư, ngũ kinh, lịch sử, thơ phú Trung Hoa, nhưng đó chỉ mới là một khía cạnh của văn minh Trung Hoa, còn về Nhật Bản, Ấn Độ, các cụ không biết gì hơn bọn tân học chúng ta, nghĩa là hầu như chẳng biết gì cả. Chúng ta thường tự hào là nhờ vị trí của giang sơn mà được tiếp thu của hai nền văn minh Trung và Ấn, rồi lại do một đại biến cố của lịch sử, tiếp thu được nền văn minh phương Tây, như vậy là tổng hợp được ba nền văn minh lớn nhất của nhân loại, có học giả còn khoe rằng nhờ đó mà sau này dân tộc Việt sẽ giơ cao bó đuốc văn minh, dẫn đường cho nhân loại.
 
Chúng tôi cũng ước ao như vậy lắm, nhưng xét thực trạng thì phải nhận rằng từ trước tới nay chúng ta tiếp thu của Trung Hoa mười mà của Ấn Độ chưa được một. Ngay đạo Phật cũng Hoa hoá rồi mới truyền qua nước ta. Thời xưa, có vị hoà thượng nào qua Ấn học đạo rồi về truyền lại cho quốc dân như Pháp Hiển, Huyền Trang không? Có vị cao tăng nào đọc kinh Phật thẳng từ tiếng Pali không? Mãi tới vài chục năm nay mới có ít người qua Ấn học và vài vị lác đác viết được dăm ba bài báo hoặc một hai cuốn sách mỏng. Về lịch sử Ấn Độ chưa có cuốn nào cả, về trường ca vĩ đại và bất hủ của Ấn, chúng ta chỉ mới được nghe tên thôi:Mahabharata, Ramayana, Bhagavad Gita, chứ không biết nội dung ra sao, ngay đến triết học và tôn giáo, chúng ta cũng chỉ biết có đạo Phật và Yoga, còn các kinhVeda và vô số triết thuyết khác nữa thì cả nước không biết được mấy chục người đã đọc qua. Nói gì tới âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc, khoa học… của Ấn! Chỉ tại từ xưa tới nay chúng ta chỉ toàn học với ông thầy Trung Hoa rồi với ông thầy Pháp. Bây giờ tới lúc chúng ta phải biết tách ra khỏi các ông thầy đó mà tự học mới được.
 
Nghĩ vậy, nên chúng tôi giới thiệu với độc giả Văn minh Ấn Độ trước hết. Người phương Đông học về văn minh phương Đông mà phải dùng sách của phương Tây thì thực là điều bất đắc dĩ, nhưng trường ca Bhagavad Gita chỉ mới có một bản dịch của Trung Hoa và đã có trên bốn chục bản dịch của Anh, thì chúng ta cũng nên tạm gạt bỏ mặc cảm Đông Tây đó đi, và ước ao rằng các nhà du học ở Ấn về, một ngày gần đây sẽ lấp cái khuyết điểm đó cho chúng ta. Vả lại, trong giai đoạn hiện tại, để phổ biến kiến thức, cho chúng ta một tổng quan Ấn Độ, thì tôi chưa thấy cuốn nào vừa sáng sủa vừa vô tư như cuốn của Will Durant. Xin độc giả đọc mấy hàng này trong đoạn kết ở cuối sách:

“Có lẽ bị phương Tây xăm lăng, cướp bóc một cách vô liêm sĩ, Ấn Độ để đáp lại, sẽ dạy cho chúng ta bài học khoan hồng cao thượng, dấu hiệu của một tâm hồn già dặn, dạy cho chúng ta có một tâm hồn thanh thản, thoả mãn, để tiếp thu những ý mới, có một trí óc bình tĩnh hiểu được hết thảy, tha thứ cho hết thảy, sau cùng có một tấm lòng nhân từ yêu thương mọi sinh vật, chỉ tấm lòng đó mới đoàn kết mọi người với nhau được thôi.”

 
Một học giả phương Tây mà hiểu phương Đông như vậy, không phải là dễ kiếm.


*
*       *


Để bản dịch được sáng sủa, chúng tôi:


- Thỉnh thoảng thêm một vài chữ hoặc một câu ngắn trong mạch văn, những chỗ thêm đó, chúng tôi đặt trong dấu [ ]
.

- Thêm một ít cước chú đánh số Ả Rập để khỏi lầm với cước chú của tác giả đánh dấu hoa thị *.

- Thêm một bản danh từ Ấn ở cuối sách để độc giả mới đọc lần đầu dễ tra kiếm mà nhớ lại nghĩa.


Sài Gòn, ngày 1-1-1971

NGUYỄN HIẾN LÊ

 
 

Chân lí cao cả nhất là chân lí này: Thượng Đế hiện diện ở trong vạn vật. Vạn vật là muôn hình vạn trang của Thượng Đế. Không nên  tìm một đấng thần linh nào khác… Chúng ta  cần một tôn giáo tạo những con người cho ra con người… Bạn nên bỏ những tôn giáo thần bí làm cho bạn suy nhược đi, và bạn nên cương cường… Trong năm chục năm sắp tới đây… chúng ta nên từ bỏ hết các thần linh khác trong trí óc ta đi. Chỉ có mỗi một đấng Thượng Đế có ý thức, là nòi giống của chúng ta, đâu đâu cũng có bàn tay của Ngài, bàn chân của Ngài, cặp tai của Ngài; Ngài bao trùm hết thảy… Sự sùng bái chính đáng nhất là sự sùng bái vạn vật chung quanh ta Chỉ người nào giúp đỡ vạn vật mới thực sự là thờ phụng Thượng Đế.
VIVEKANADA

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

Đền Khajuraho - quần thể sáng tạo độc nhất vô nhị ở Ấn Độ

Mặc dù ngày nay chỉ còn sót lại 22 trong số 85 ngôi đền ban đầu, quần thể Khajuraho vẫn được đánh giá là một trong những khu đền độc đáo và xuất sắc nhất Ấn Độ, được UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới vì “những giá trị sáng tạo nghệ thuật độc nhất vô nhị”. 

Tháp và đền đồ sộ ở khu di sản Khajuraho

Chuyến tàu đêm từ Jhansi đưa chúng tôi tới ga nhỏ thị trấn Khajuraho vào sáng sớm. Phòng giữ đồ ở ga chưa mở cửa nên chúng tôi quyết định thuê nguyên ngày một chiếc xe lam nhỏ, vừa chở được cả hành lý, vừa tiện lợi khi đi tham quan toàn bộ các đền đài nằm rải rác trong khu vực rộng tới 20km2 ở ba phía đông, tây và nam của thị trấn.

Các du khách có ít thời gian thường chỉ tập trung vào khu vực phía tây với những ngôi đền đẹp nhất và cũng là khu vực duy nhất bán vé tham quan. Còn chúng tôi có đủ thời gian thăm thú toàn bộ di sản vì chuyến tàu tiếp theo tới nửa đêm mới khởi hành.

 

Với trình độ điêu khắc đã đạt tới đỉnh cao, di sản Khajuraho có thể được coi là một bảo tàng ngoài trời với hàng triệu hình chạm khắc tinh xảo trên đá sa thạch. Khắp bề mặt các ngôi đền, từ những bậc đá lên tới tận đỉnh tháp, là các bức tượng bằng đá diễn tả cảnh sinh hoạt của người Ấn Ðộ thời cổ đại. Qua những câu chuyện lịch sử trên đá này, du khách hiện đại có thể hình dung ra mức độ phát triển của xã hội Ấn Độ hàng ngàn năm trước. Từ cảnh ăn chơi xa hoa của vua chúa trong hoàng cung đến cảnh thờ cúng, lao động, tu hành, thuần hóa thú dữ... tất cả đều được mô tả sống động. Tôi đặc biệt yêu thích những bức tượng thiếu nữ gợi cảm trong những hoạt động thường ngày thú vị như trang điểm, chải tóc hay uốn cong người trong các tư thế yoga mềm dẻo.

Song, ấn tượng độc đáo nhất về Khajuraho chính là những cụm tượng mô tả cảnh giao hoan được chạm khắc khá cởi mở, có thể khiến những du khách hay e thẹn phải đỏ mặt bối rối. Mặc dù bất ngờ, nhưng chúng tôi không thấy khó hiểu khi nhớ rằng Ấn Độ là quê hương của Kama Sutra, cuốn sách cổ biên khảo về tình dục có từ thế kỷ thứ III. Các nhà khảo cổ cũng cho rằng, các cảnh giao hoan chạm khắc trên đền Khajuraho là mô phỏng theo các tư thế trong Kama Sutra.


 

Những cụm tượng mô phỏng theo sách cổ Kama Sutra

Chúng tôi kết thúc ngày tham quan bằng những phút giây thư giãn ngắm mặt trời lặn trên các bậc thềm đá của đền Lakhmana, ngôi đền cổ đẹp nhất cụm tháp phía tây. Xung quanh chúng tôi, những phụ nữ Ấn Độ trong trang phục sari nhiều sắc màu dập dìu đi lại, gợi nhớ một thời vàng son khi Khajuraho là thủ đô văn hóa của vương triều Chandela Rajputs.

 

Theo phunuonline

 

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

Phong cách thiết kế vườn Nhật

Một trong những điểm nổi bật trong phong cách thiết kế Á Đông điển hình chính là kiến trúc và lối suy nghĩ Nhật Bản. Điều này đã làm nên đặc trưng và sự ấn tượng cho kiến trúc Nhật Bản trong nhiều thế kỉ và ngày càng phổ biến trên thế giới, mang lại một cái nhìn độc đáo cho những thiết kế sân vườn theo phong cách Nhật Bản. Kiểu vườn này đặc biệt chú trọng vào việc tạo ra một không gian bình yên và tĩnh lặng, rất phù hợp cho việc nghỉ ngơi, thư giãn. Nếu bạn may mắn sở hữu một khu vườn tương đối rộng và yêu thích cảm giác tĩnh lặng, thiền định thì một khu vườn theo phong cách sân vườn Nhật Bản sẽ là lựa chọn hợp lý nhất.

Sự kết hợp giữa văn hóa và lối sống của đất nước mặt trời mọc đã mang đến một vẻ đẹp thẩm mỹ đầy chất Á Đông cho những khu vườn Nhật Bản. Những khu vườn được ví như những món quà diệu kỳ, mang đến một không khí thanh bình và yên ả cho những ngôi nhà hiện đại ở Nhật Bản.

Nhiều người cho rằng sân vườn Nhật Bản vay mượn ý tưởng của những mô hình vườn nhà của Trung Quốc, nhưng trải qua nhiều thế kỉ, thiết kế sân vườn Nhật Bản đã có bản sắc riêng và đậm chất văn hóa dân tôc. Sân vườn được thu lại theo một tỉ lệ nhỏ đại diện cho quang cảnh và những địa điểm nổi tiếng trong một không gian nhỏ và đẹp. Cảnh đồi núi và sông được thu nhỏ lại bằng cách dùng đá, cát và sỏi. Chủ nghĩa tượng trưng được sử dụng hầu hết trong mỗisân vườn Nhật Bản. Cát hay sỏi được cào tạo ra dáng những con sông, một khối đá và đá cuội có thể biểu tượng cho những hòn đảo nhỏ.

Một khu vườn Nhật cơ bản thường bao gồm các yếu tố: hồ nước, đá, cây, cát, tre, hoa lá. Theo quan niệm của người Nhật Bản, khu vườn là sự mô tả thiên nhiên một cách chính xác nhất và cũng thể hiện được lòng kính trọng của con người đối với tự nhiên.

Sự hòa hợp của yếu tố nước và đá sẽ mang đến sự hài hòa cho khu vườn. Nếu bạn không có điều kiện sở hữu một hòn non bộ với dòng suối nhân tạo hay dòng thác nhỏ, hãy xem cát là vật thay thế phù hợp vì nó là tổng hợp kì diệu của nước và mây theo quan niệm của người Nhật.

Những mẫu thiết kế sân vườn được ưu chuộng theo phong cách Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản

Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản

 

Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản

 

Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Phong cách thiết kế sân vườn Nhật Bản


Việc thiết kế khu vườn theo phong cách này đòi hỏi người  thiết kế phải nắm được  5 nguyên tắc cơ bản sau:


- Đặt rêu ở lối vào và dọc theo hai mặt của vườn. Những tấm thảm rêu này sẽ vừa tạo cho bạn cảm giác được chào đón khi bước vào khu vườn nhưng đồng thời như một lối dẫn vào không gian tách biệt. Rêu có thể làm cho khu vườn của bạn như rút lui hẳn khỏi sự ồn ào, náo nhiệt của bên ngoài, và giúp cho quá trính phục hồi năng lượng sau khi hoàn thành những công việc khó khăn.

- Để làm cho không gian có vẻ bí ẩn và lôi cuốn bạn có thể đặt những chiếc đèn đá tại một số vị trí trong khu vườn. Bạn cũng có thể đặt một vài giỏ treo xung quanh chỗ đặt đèn để tạo sự chú ý. Những chiếc đèn đá này giúp cho thiết kế sân vườn Nhật Bản có được sự ấm áp và khác biệt.

- Tạo ra những “khu vườn khác” bên trong không gian của vườn chính. Điều này có nghĩa là bạn có thể thêm những vườn khô và vườn đá nhỏ, chúng được sử dụng như không gian thiền định. Đá là vật trang trí không thể thiếu và ý nghĩa của nó phụ thuộc vào bố cục mà bạn sắp xếp. Những núi đá sừng sững hay những ngọn đá bị bào mòn do song biển mang không gian thiên nhiên bao la hùng vĩ vào nhà bạn. Sẽ tuyệt hơn nữa nếu bạn bố trí them những cây cầu bắc ngang qua dòng suối thơ mọng đó. Điều này làm nên phông màn thiên nhiên tuyệt vời.

- Nhà uống trà là một trong những không gian không thể thiếu được trong các khu vườn Nhật. Đó có thể chỉ là một căn nhà nhỏ hết sức đơn giản làm nơi thư giãn với hoặc quây quần cùng gia đình hoặc bạn bè của bạn. Để tạo những tầm nhìn tuyệt vời cho nhà trà, các cửa sổ nên được hướng ra những cảnh yên bình trong vườn, như vườn đá Nhật Bản, lồng đèn hay vườn Zen. Hãy trang trí ngôi nhà với một số loại cây, hoặc hoa đẹp mắt để tạo sự hài hòa với thiên nhiên bên ngoài.

- Thác phun nước bằng tre và những hồ nước nhỏ, những đồ thủ công chất lượng cao được sắp xếp một cách có tính toán, chủ đích. Đài phun nước mang lại cho bạn cảm giác bình yên bởi âm thanh tự nhiên, nhẹ nhàng mà chúng đem lại. Những tiếng róc rách và hình ảnh dòng nước trôi êm đềm sẽ tạo ra một khung cảnh thiền định cho khu vườn của bạn. Những hồ nước nhỏ này còn đại diện cho sự tinh khiết và trầm lắng.

Nhìn vào khu vườn truyền thống của Nhật, chúng ta sẽ thấy một không gian thanh bình đến lạ lùng. Nhưng điều đó không khiến người ta cảm thấy nhàm chán, ngược lại càng khiến chúng ta tò mò hơn, và sẽ ngắm nhìn khu vườn lâu hơn, kỹ hơn, để rồi tìm ra được sự cầu kỳ và tinh tế trong thiết kế của khu vườn, đồng thời khám phá ra góc sâu tâm hồn mình. Với trí tưởng tượng bay bổng và kĩ thuật của người Nhật Bản, hi vọng bạn sẽ có những ý tưởng hay cho thiên đường xanh ngắt thu nhỏ nhà mình!


Những tảng đá 100 tấn ở Tử Cấm Thành được vận chuyển thế nào?

Những thông tin lưu trữ từ khoảng thời gian Tử Cấm Thành được xây dựng vào năm 1406 cho thấy, các công nhân đã kéo các khối đá nặng trên 100 tấn từ một mỏ đá cách xa 43 dặm (gần 70 km) đến địa điểm xây dựng Tử Cấm Thành. Họ sử dụng mạng lưới những con đường do con người làm ra.

Tuy nhiên, 600 năm sau, các kỹ sư đã nghiên cứu và phát hiện ra một hệ thống gồm các giếng nước và các "đường băng" được dùng để những khối đá khổng lồ này trượt và dễ dàng di chuyển, hiệu quả hơn bất kỳ biện pháp di chuyển nào khác (vào thời đó).

Những tảng đá 100 tấn ở Tử Cấm Thành được vận chuyển thế nào?
 

Các kỹ sư đã nghiên cứu hiệu quả của phương pháp di chuyển các khối đá của công nhân ngày xưa. Họ tính toán rằng nếu không sử dụng nước ấm (ảnh trên) thì sẽ phải cần đến 338 người đàn ông để kéo một khối đá nặng 123 tấn đi trong 10 mét (phía trên). Nhưng sử dụng nước ấm để bôi trơn các đường băng, chỉ cần 46 người đàn ông để di chuyển khối đá này (ảnh dưới) với cùng quãng đường đó.

Các chuyên gia đến từ hai trường đại học ở Bắc Kinh và Đại học Princeton ở Mỹ tin rằng vào ngày đó, cứ mỗi khoảng cách 500 mét, các công nhân lại đào một giếng nhỏ dọc theo các con đường tự làm để lấy nước, sau đó họ rót nước đó để tạo thành đường băng trong mùa đông, cũng như làm trơn các con đường. Người ta tin rằng các nhóm công nhân đã tự mình kéo những tảng đá khổng lồ này.

Các kỹ sư đã tính toán mức độ ma sát mà các phương pháp di chuyển đá khác nhau sẽ tạo ra, bao gồm cả việc sử dụng con lăn – thứ mà người ta tin là đã được sử dụng trong các phương pháp di chuyển đá ngày xưa. Các tính toán của họ cho thấy phương pháp trượt đá qua băng và dùng nước để bôi trơn đường là cách làm hiệu quả nhất.

Nhóm các kỹ sư nghiên cứu nói rằng, mùa đông ở Bắc Kinh cách đây 600 năm đủ lạnh để khiến các con đường đóng băng, nhưng lại lạnh đến mức nếu chỉ có băng sẽ không đủ sức bôi trơn lớp nước phía dưới các xe trượt bằng gỗ được dùng để chở đá và bề mặt của các con đường băng. Tuy nhiên, họ tin rằng con người ngày xưa đã rót một lượng nước ấm trên băng đủ để băng vẫn lỏng và giúp họ trượt xe dễ dàng hơn.

Những tảng đá 100 tấn ở Tử Cấm Thành được vận chuyển thế nào?
 

Những công nhân Trung Quốc thế kỷ 15 đã có cách làm tuyệt vời để di chuyển những khối đá khổng lồ trong công trình xây dựng Tử Cấm Thành nổi tiếng của Trung Quốc. các kỹ sư đã nghiên cứu và phát hiện ra một hệ thống gồm các giếng nước và các con đường băng được dùng để những khối đá khổng lồ này trượt và dễ dàng di chuyển, hiệu quả hơn bất kỳ biện pháp di chuyển nào khác thời đó.

Các kỹ sư cũng đã tính toán rằng nếu không dùng nước ấm, phải có 338 người mới kéo nổi một tảng đá nặng 123 tấn đi khoảng 10 mét. Tuy nhiên, nếu dùng nước ấm để bôi trơn đường băng, chỉ cần đến 46 người để kéo khối đá nặng tương đương di chuyển trong 10 mét.

Trọng lượng và kích thước của đá dùng trong các phép tính toán ở trên xuất phát từ một tài liệu được viết từ năm 1557, sau khi dự án kiến trúc khổng lồ này kết thúc. Theo tài liệu này, các công nhân ngày xưa đã vận chuyển đá đi trong 43 dặm (gần 70km).

Các kỹ sư ngày nay tin rằng, việc kéo các xe trượt trên đường băng được bôi trơn bằng nước là một phương pháp hiệu quả hơn so với việc lăn đá trên các con lăn.

Trong nghiên cứu đã được xuất bản trên báo Proceedings của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia, các nhà nghiên cứu cho biết hệ số ma sát khi sử dụng con lăn dọc trên đường là 0,2 - 0,4, trong khi sử dụng phương pháp dùng nước và đường băng, hệ số ma sát giảm xuống chỉ còn 0,02.

Các chuyên gia cũng nói, trượt xe trượt dễ dàng hơn sử dụng con lăn vì xe trượt dễ tạo ra đường băng trơn tru hơn. Theo các kỹ sư, ngày đó, các loại xe có bánh (thô sơ) không thể chịu nổi sức nặng của những tảng đá lớn. Ngoài ra, con người và những con đường băng cũng đáng tin cậy hơn so với xe kéo và những con la, đặc biệt khi các kiến trúc sư của Tử Cấm Thành luôn lo lắng cho sự an toàn của những khối đá đắt tiền.

Những tảng đá 100 tấn ở Tử Cấm Thành được vận chuyển thế nào?
 

Các kỹ sư nghiên cứu nói rằng mùa đông ở Bắc Kinh cách đây 600 năm đủ lạnh để khiến các con đường đóng băng, nhưng lại lạnh đến mức nếu chỉ có băng sẽ không đủ sức bôi trơn. Tuy nhiên, họ tin rằng con người ngày xưa đã rót một lượng nước ấm trên băng để giúp họ trượt đá dễ dàng hơn.

Tử Cấm Thành được xây dựng từ năm 1406 đến 1420

Tử Cấm Thành là hoàng cung của Trung Quốc từ thời nhà Minh đến cuối thời nhà Thanh. Tử Cấm Thành ở trung tâm Bắc Kinh, Trung Quốc và hiện là Viện Bảo tàng Hoàng cung. Trong thời gian gần 500 năm, Tử Cấm Thành là nhà của các hoàng đế và các thành phần hoàng thân quốc thích. Được xây dựng từ năm 1406 đến 1420, công trình này bao gồm 980 toà nhà và có tổng diện tích lên tới 720.000 mét vuông.

Tử Cấm Thành nằm ở Kinh Thành (Imperial City) trong Triều đại Nguyên-Mông, nhưng khi thành lập triều đại nhà Minh, Hoàng đế đã dời đô từ Bắc Kinh ở phía Bắc lên Nam Ninh ở phía Nam và ra lệnh đốt cháy các cung điện của nhà Nguyên.

Khi Chu Lệ trở thành Hoàng đế Vĩnh Lạc, ông đã chuyển đô về Bắc Kinh và bắt đầu công trình xây dựng Tử Cấm Thành vào năm 1406. Công trình xây dựng này kéo dài 14 năm và cần đến hơn 1 triệu công nhân.

Vật liệu sử dụng bao gồm toàn bộ các loại gỗ quý Nam Mộc (Phoebe Zhennan) trong các khu rừng rậm phía tây nam Trung Quốc, và một khối lượng lớn đá cẩm thạch lấy từ các mỏ đá gần Bắc Kinh. Các toà lâu đài đều được lát bằng "gạch vàng".


Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

Tìm thấy bức phù điêu cổ của người Maya ở Guantemala

Nền văn minh Maya là nền văn minh cổ đặc sắc bên cạnh nền văn minh Andes, được xây dựng bởi người Maya - một bộ tộc thổ dân châu Mỹ mà từ 2000 năm trước đây. Nền văn minh này đã đạt một trình độ cao không những về lĩnh vực xây dựng nhà nước mà còn phát triển rực rỡ cả lĩnh vực kiến trúc, toán học, thiên văn học và tính toán thời gian. Mới đây các nhà khảo cổ học đã có một phát hiện rất đáng quý tại Guantemala. Họ đã khai quật  và tìm ra được bức phù điêu cổ có niên đại hàng nghìn năm của người Maya. Bức phù điêu này là mặt tiền của một tòa tháp cổ ở tỉnh Peten, cách thủ đô của Guatemala khoảng 600km về phía bắc

Tìm thấy bức phù điêu cổ của người Maya ở Guantemala
 

Tác phẩm quý giá này đã được chạm khắc vào khoảng 1400 năm trước, khoảng những năm 590 sau công nguyên. Trước đây, những kẻ đào mộ chuyên nghiệp gần như đã tìm được nó, dù đã ở rất gần bức phù điêu nhưng có lẽ không thấy tín hiệu gì nên chúng đã bỏ cuộc. Các nhà khảo cổ đã đào sâu hơn vào đường hầm có sẵn, sử dụng máy xúc và cuối cùng đã thu được thành quả vào tháng 7/2013. Nhà khảo cổ học Guatemala Francisco Estrada-Belli – người đứng đầu đội khai quật tuyên bố rằng đây có thể là một tác phẩm để đời trong cuộc đời đi tìm cổ vật của ông. Có lẽ rằng đây là tác phẩm nghệ thuật kiến trúc chưa từng thấy từ trước tới nay của nền văn minh Maya. Nền văn minh đã từng tồn tại nhiều thế kỷ trong vùng rộng lớn, gồm lãnh thổ 5 bang miền nam Mexico và các nước Guatemala, Honduras và El Salvador ngày nay.

Tìm thấy bức phù điêu cổ của người Maya ở Guantemala
 

Bản thân công trình tháp cổ cũng còn rất nhiều  điều thú vị chưa được khám phá. Phát hiện bức phù điêu ngay từ mặt tiền là một kết quả đầy hứa hẹn. Cho đến nay tòa tháp cổ mới chỉ được khám phá một góc, một phần của cầu thang và đang tiếp tục được khai quật.

Tìm thấy bức phù điêu cổ của người Maya ở Guantemala
 

Bức phù điêu được tìm thấy có chiều dài 8 mét và chiều rộng 2 mét, ở trong tình trạng gần như nguyên vẹn. Nó có màu đỏ điểm xuyết các chi tiết màu xanh trời, màu vàng và xanh lá cây. Theo mô tả ban đầu, bức phù điêu vẽ lại ba người đàn ông đội mũ chim và đồ trang sức ngọc bích ngồi bắt chéo chân trên đầu ngọn núi.  

Tìm thấy bức phù điêu cổ của người Maya ở Guantemala
 

Theo Tiến sĩ Alex Tokovinine  - đại học Harvard đây là ba nhân vật quan trọng trong văn hóa của người Maya. Những gì được thể hiện trên bức phù điêu cho thấy có thể nó thể hiện một nghi thức hoặc miêu tả một triều đại nào đó. Trên mặt bức phù điêu cũng có một đoạn văn cổ với 30 nét chạm, theo đó một đấng trị vì ở một vương quốc hùng mạnh phía nam Holmul đã ra lệnh làm bức phù điêu này. Những dòng chữ cổ còn cho thấy Ajwosaj, một chư hầu của Chúa tể Rắn, đã tới địa điểm này để tái lập trật tự chính trị và tôn giáo ở đây sau khi Holmul quay lưng với vương quốc Tikal. Ngoài ý nghĩa về mặt lịch sử, các nhà nghiên cứu còn kỳ vọng vào những thông tin văn hóa được truyền đạt trên tác phẩm này.

Tìm thấy bức phù điêu cổ của người Maya ở Guantemala
 

Sau khi được khai quật, hiện tại bức phù điêu vẫn ở nguyên chỗ cũ. Do kích thước quá lớn nên việc di rời chưa được thực hiện nhằm bảo tồn nguyên vẹn nhất hiện vật. Tuy nhiên sau khi được khai quật, những thay đổi về nhiệt độ và độ ẩm gây ra những mối đe dọa như rêu, sự tổn hại màu sắc lớp bề mặt. Các nhà khảo cổ hiện phải lấp lại đường hầm dẫn tới bức phù điêu này, họ sẽ tiếp tục công việc vào mùa khô năm sau.

Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2013

Kiến trúc vượt thời gian của cây cầu gỗ ở Trung Quốc

Dân tộc Dong là một trong 56 nhóm dân tộc thiểu số cư ngụ tại Trung Quốc. Cư dân Dong sống trong các ngôi làng nằm rải rác ở các tỉnh như Hồ Nam, Hồ Bắc, Quý Châu, Quảng Tây. Đây là những nơi nổi tiếng với loại gạo ngọt truyền thống và đặc biệt là kỹ năng có một không hai về nghề mộc, được thể hiện qua kiến trúc độc đáo của những chiếc cầu gỗ vượt thời gian.

Đình Kiên

Những chiếc cầu này được gọi là “Cầu mưa gió” bởi lẽ trên những chiếc cầu này có các mái chòi, đó là nơi nghỉ ngơi tránh mưa tránh gió của người dân Dong. Ngoài tên gọi trên, những chiếc cầu này còn được gọi với cái tên khác là “Cầu hoa” do kiến trúc tinh xảo của chúng. Vào những ngày mưa gió, các mái chòi trên cầu trở thành nơi lý tưởng cho người dân gặp gỡ chuyện trò, nghỉ ngơi thư giãn, tán gẫu, trao đổi ý kiến và là nơi biểu diễn các trò văn nghệ giải trí.

“Cầu mưa gió” là sự kết hợp giữa cầu, tháp và chòi với vật liệu chính chủ yếu là gỗ. Trên cả hai mặt của cầu có các rào chắn và được bố trí các hàng ghế, tạo thành một khu vực nghỉ ngơi cho khách qua đường, bên trong hành lang có mái che. Mái hiên của cầu có kiến trúc vuốt ngược lên, bên trong các chòi và tháp được trang trí bằng hoa văn rồng phượng, trên các cột chống được khắc với các họa tiết đẹp mắt.

Đình Kiên

Một trong số những chiếc cầu nổi tiếng này phải kể đến là cầu Chengyang ở Sanjiang, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Chiếc cầu này được xây dựng vào năm 1916, đó cũng được xem là chiếc cầu mưa gió lớn nhất ở Trung Quốc. Cầu Chengyang có 2 bệ móng, 3 cột chống, 3 nhịp cầu, 5 gác chòi, 19 hành lang và 3 tầng. Chiếc cầu có chiều dài 64.4 mét, chiều rộng 3.4 mét và chiều cao 10.6 mét. Các cột chống được xây dựng bằng đá, kiến trúc phần trên được làm chủ yếu bằng gỗ, mái chòi được lợp bằng ngói. Ở hai bên cầu được bố trí các hàng ghế tựa để dành cho người dân nghỉ ngơi mỗi lúc đi qua.

Kiến trúc vượt thời gian của cây cầu gỗ ở Trung Quốc

Từ những hàng ghế, người dân có thể ngồi ngắm nhìn dòng sông Linxi chảy phía dưới hoặc lia tầm mắt ra xa ngắm nhìn cảnh vật thiên nhiên. Hai bên bờ sông là cánh rừng chè xanh ngát, và dọc theo sườn đồi là những cánh rừng tươi tốt. Hàng ngày, chiếc cầu đã thu hút rất nhiều du khách đến tham quan chiêm ngưỡng.

Một số hình ảnh về "Cầu mưa gió" ở Trung Quốc:


Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên