Trang

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

Samurai

Samurai là một đại diện tiêu biểu cho tầng lớp võ sĩ đạo ở Nhật Bản, là những chiến binh với những kĩ thuật hoàn hảo. Nhưng điều làm lên tên tuổi cho các samurai chính là lòng trung thành tuyệt đối và luôn đặt danh dự của mình lên hàng đầu. Họ quyết không để đánh mất danh dự của chính mình cho dù có phải đối mặt với cái chết. Hiện nay, các chiến binh samurai vẫn thu hút rất nhiều người quan tâm và đã được tái dựng lại rất nhiều trên các trò chơi, đặc biệt là phim ảnh. Dưới đây là một số bí ẩn về các samurai – chiến binh vĩnh cửu với thời gian.
1. Một Samurai chân chính
Samurai và những bí ẩn về chiến binh Nhật Bản
Khoảng giữa thế kỉ thứ chín, khái niệm Bushido ( võ sĩ đạo ) bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Bushido được hiểu là một triết lí sống, một tư tưởng chủ đạo mà mỗi samurai đều phải tuân theo. Ban đầu, tư tưởng Bushido chỉ áp dụng cho tầng lớp chiến binh thông thường nhưng sau cùng nó đã gần như trở thành một bộ luật được áp dụng rộng rãi trong thời kì phong kiến ở Nhật Bản. Bushido bao gồm bảy đức tính chính hướng đến các cách ứng xử trong cuộc sống của các võ sĩ đạo, có cả những luật bất thành văn. Là một samurai chân chính có nghĩa là họ luôn phải đặt Bushido lên hàng đầu, luôn đứng về phía công bằng và công lý, sẵn sàng đón nhận cái chết để giữ gìn danh dự cho mình . Bên cạnh đó, họ còn phải tuyệt đối trung thành với chủ nhân và luôn hoàn thành nhiệm vụ bất kể có xảy ra chuyện gì đi chăng nữa. Đó là những nguyên tắc cơ bản mà một võ sĩ đạo luôn phải ghi nhớ và tuân theo. Chính điều này đã giúp giữ gìn hình ảnh và tạo nên tên tuổi cho các samurai Nhật Bản hàng trăm năm nay.
Trong thực tế, một số khía cạnh của tư tưởng Bushido có thể có những mâu thuẫn với nhau. Samurai được coi là cánh tay phải đắc lực của các lãnh chúa thời phong kiến, họ có thể được giao bất kì nhiệm vụ nào, cho dù điều đó là trái với luân lí và bất hợp pháp. Điều này khá mâu thuẫn với tư tưởng Bushido – luôn đứng về phía công bằng. Nhưng cũng cần phải nhớ rằng khái niệm công lý giữa những năm của thế kỉ thứ 9 khác xa với khái niệm công lý của thời hiện đại.
2. Seppuku – Mổ bụng tự sát
Samurai và những bí ẩn về chiến binh Nhật Bản
Danh dự là thứ quý giá nhất của một samurai chân chính. Nếu thất bại một nhiệm vụ nào đó hoặc vi phạm vào tư tưởng Bushido họ sẽ tự sát. Thông thường, các võ sĩ đạo sử dụng phương pháp Seppuku. Họ cầm một con dao nhỏ và tự cắt ruột của mình. Sau đó, một người đứng cạnh sẽ chém đầu họ để kết thúc nghi thức Seppuku.
Seppuku tồn tại trước cả Bushido. Theo sự miêu tả của các nước phương Tây, đây là một hình thức, nghi lễ để các samurai có thể chuộc tội. Khi làm một cái gì đó khiến cho gia đình, chủ nhân, bản thân cảm thấy xấu hổ, họ sẽ mổ bụng tự sát để lấy lại danh dự của mình và tự hào về nó trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời.
Tuy nhiên, đó không phải mục đích duy nhất của Seppuku. Theo những tài liệu lịch sử, nó là một hình phạt tử hình được sử dụng cho đến tận năm 1873. Trước đó, các lãnh chúa còn sử dụng Seppuku để thỏa thuận hòa bình. Họ sẽ chấp nhận ngưng chiến nếu người kia chịu mổ bụng tự sát. Ngoài ra,còn có quan điểm cho rằng, việc các samurai bị người khác giết là một nỗi tủi nhục lớn. Họ thà mổ bụng tự sát chứ quyết không để bị bắt và tra tấn. Trong thời hiện đại, nghi thức Seppuku lại nổi lên ở Nhật Bản, như một cách để khôi phục lại danh dự khi thất bại và được sử dụng như một phương tiện thể hiện sự chống đối.
3. Katana Catch - Bắt kiếm Nhật bằng tay không
Samurai và những bí ẩn về chiến binh Nhật Bản
Một trong những kĩ thuật nổi bật nhất của các samurai là khả năng bắt được kiếm bằng tay không. Họ sẽ cản thanh kiếm của đối phương bằng cách vỗ tay vào đúng thời điểm và lưỡi kiếm sẽ nằm gọn trong lòng bàn tay họ. Đây thực sự là một kĩ thuật rất khó và độ rủi ro cao đòi hỏi người sử dụng phải có kĩ năng rất điêu luyện. Nó còn được thảo luận trong một thời gian dài về việc liệu thực sự các samurai có sử dụng kĩ năng này trong chiến đấu hay không. Tính hiệu quả của nó thì miễn bàn nhưng độ thực tế thì chưa ai xác thực điều này.
Trong võ thuật, cũng có một số kĩ thuật dùng tay không đối phó khi đối thủ dùng kiếm để tấn công. Nhưng kĩ thuật này của các chiến binh samurai thì khác hoàn toàn. Thực tế, các thanh katana ( kiếm Nhật )bén tới nỗi có thể cắt đứt xương, vì vậy việc bắt gọn lưỡi kiếm trong lòng bàn tay gần như là không thể.
Hiện nay, một số trường dạy kiếm thuật có những kĩ thuật tương tự như của samurai. Nó đòi hỏi người luyện tập phải di chuyển nhanh và nắm chính xác vào phần thấp nhất của lưỡi kiếm hoặc tay người tấn công và lấy kiếm của họ.
4. Ronin chân chính
Samurai và những bí ẩn về chiến binh Nhật Bản
Ronin là một khái niệm để chỉ những samurai đã mất chủ hoặc bị chủ nhân từ bỏ. Họ bị các samurai khác ruồng bỏ và không thể tìm được chủ nhân mới. Vì vậy, trong trường hợp chủ nhân của họ bị chết, thường các samurai này sẽ dùng seppuku để tự sát và theo chủ nhân xuống mồ. Tuy nhiên, vẫn có những người không muốn làm điều này và họ trở thành những Ronin.
Những Ronin này vẫn tiếp tục sống và làm những công việc như vệ sĩ hoặc lính đánh thuê nhưng luôn tuân theo tư tưởng Bushido. Nhưng trải qua nhiều biến động cộng với việc bị những người cùng tầng lớp xa lánh, ruồng bỏ, không còn gì ràng buộc họ với triết lí sống đó và trở thành những con người tự do trong xã hội phong kiến.
Nhiều Ronin đã sa vào những con đường phạm tội như bảo kê nhà thổ, cờ bạc, giết thuê.. Một số người cho rằng họ đã trở thành những trụ cột trong các băng nhóm tội phạm, gần đây là việc băng nhóm Yakuza tiền thân là một nhóm các Ronin này.
5. Quần rộng – Lợi thế của các Samurai ?
Trang phục của các Samurai thường có dạng :
Samurai và những bí ẩn về chiến binh Nhật Bản
Kiểu quần này được gọi là hakama, được thiết kế có vẻ hơi cồng kềnh, khá dày và bên cạnh đó cũng có nhiều kiểu quần khác nhau thiết kế cho những dịp khác nhau. Nhưng chúng đều có một điểm chung đó là : rất dài.
Samurai và những bí ẩn về chiến binh Nhật Bản
Việc mặc những kiểu quần dài như thế này trông có vẻ không thực tế cho lắm trong chiến đấu, nhưng tương truyền, các samurai mặc hakama sẽ che dấu được những bước di chuyển của mình. Từ đó, đối thủ sẽ không đoán được ý đồ tấn công và cách di chuyển bất ngờ sẽ đem lại lợi thế cho họ. Tuy nhiên, nó có vẻ không hiệu quả lắm khi mặc đồ này trong những cuộc chiến.
Các bước di chuyển là điều thành công của các kiếm sĩ cũng như võ sĩ đạo. Nhưng việc mặc những chiếc quần dài như vậy có vẻ khá vướng víu. Miyamoto Musashi, người được coi là một trong những kiếm sĩ giỏi nhất trong lịch sử, đã từng thừa nhận việc này trong cuốn sách của ông : Book of Five Ring.

Thứ Ba, 21 tháng 9, 2010

Abu Dhabi rực rỡ và bí ẩn



Đền Sheikh Zayed.
Là một trong bảy vương quốc tạo nên Các Tiểu vương quốc Ảrập Thống nhất, Abu Dhabi là sự kết nối của sa mạc và bờ biển, thành phố hào nhoáng, hiện đại với truyền thống văn hóa đậm đà. Ảnh trên National Geographic.


Bên trong đền Sheikh Zayed.
Các cô gái tản bộ trên bãi biển với trang phục kín mít.
Bãi biển Corniche vào một buổi sáng.
Khách sạn dát vàng lộng lẫy mang tên Emirates Palace.
Đường núi Jebel Hafeet vắt trên đỉnh núi cùng tên, một trong những dãy núi cao nhất ở Các Tiểu vương quốc Ảrập Thống nhất.
Thành phố cổ Al Ain ở phía đông Abu Dhabi.
Chim ưng trên sa mạc.
Phi xe trên sa mạc Safari.
Cuộc thi 'Hoa hậu lạc đà' hàng năm thu hút tới 24.000 'thí sinh'.
Đền Sheikh Zayed Mosque lung linh trong đêm, được nhìn từ một khách sạn xa xỉ gần đó.

Thứ Hai, 13 tháng 9, 2010

Vẻ đẹp kỳ bí của Indonesia

Những ngôi đền thờ đầy bí ẩn, những quần đảo xanh ngát cùng với hệ sinh thái phong phú, đa dạng... Indonesia như một tuyệt tác chứa đựng đầy bí ẩn.
Borobudur, “đền thờ Phật trên ngọn núi” được xây dựng dưới vương triều Sailendra vào khoảng thế kỉ VIII – thế kỉ IX. Ảnh: National Geographic
Borobudur, “đền thờ Phật trên ngọn núi” được xây dựng dưới vương triều Sailendra vào khoảng thế kỉ VIII – thế kỉ IX. Ảnh: National Geographic
Người Indonesia tin rằng hai ngọn núi lửa Semeru và Bromo là hai cánh cửa dẫn vào thế giới bí ẩn. Ảnh: National Geographic
Người Indonesia tin rằng hai ngọn núi lửa Semeru và Bromo là hai cánh cửa dẫn vào thế giới bí ẩn. Ảnh: National Geographic
Hang voi (Goa Gajah) trên đảo Bali với những bức tường được chạm trổ một cách vô cùng phức tạp. Hình ảnh của lá, sóng nước, các loài động vật và ma quỷ đều được khắc họa đầy tinh tế, sống động. Ảnh: National Geographic
Hang voi (Goa Gajah) trên đảo Bali với những bức tường được chạm trổ vô cùng phức tạp. Hình ảnh của lá, sóng nước, các loài động vật và ma quỷ đều được khắc họa đầy tinh tế, sống động. Ảnh: National Geographic
Là một trong những thánh đường hồi giáo lớn nhất trên thế giới, Istiqlal Mosque có thể chứa hơn 70.000 tin đồ trong cùng một thời điểm. Ảnh: National Geographic
Là một trong những thánh đường Hồi giáo lớn nhất trên thế giới, Istiqlal Mosque có thể chứa hơn 70.000 tin đồ trong cùng một thời điểm. Ảnh: National Geographic
Hình ảnh của những cánh đồng lúa trên sườn đồi. Người nông dân Indonesia có thể thu hoạch 3 vụ lúa trong năm nhờ đất đai màu mỡ. Ảnh: National Geographic
Hình ảnh của những cánh đồng lúa trên sườn đồi. Người nông dân Indonesia có thể thu hoạch 3 vụ lúa trong năm nhờ đất đai màu mỡ. Ảnh: National Geographic
Đây là loài đười ươi chỉ có tại Indonessia và Malaysia. Chúng đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do bị mất môi trường sống vì nạn phá rừng. Ảnh: National Geographic
Đây là loài đười ươi chỉ có tại Indonesia và Malaysia. Chúng đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do bị mất môi trường sống vì nạn phá rừng. Ảnh: National Geographic
Quần đảo Raja Ampat là hệ sinh thái đa dạng bậc nhất thế giới. Nơi đây có khoảng 600 loài san hô, rất nhiều loài động thực vật. Ngoài ra, Raja Ampat còn là nhà của các loài sinh vật động đáo như cá mập đi bằng vây hay loài tôm có hình dáng giống như con bọ ngựa đang cầu nguyện. Ảnh: National Geographic
Quần đảo Raja Ampat là hệ sinh thái đa dạng bậc nhất thế giới. Nơi đây có khoảng 600 loài san hô, rất nhiều loài động thực vật. Ngoài ra, Raja Ampat còn là nhà của các loài sinh vật động đáo như cá mập đi bằng vây hay loài tôm có hình dáng giống như con bọ ngựa đang cầu nguyện. Ảnh: National Geographic
Vườn quốc gia Komodo chính là khu bảo tồn cuối cùng cho loài động vật đặc biệt chỉ có ở Indonesia: rồng Komodo. Đây được mệnh danh là loài thằn lằn khổng lồ với kích thước lớn nhất so với các loài thằn lằn khác. Chiều dài cơ thể nó có thể lên đến 3m. Ảnh: National Geographic
Vườn quốc gia Komodo chính là khu bảo tồn cuối cùng cho loài động vật đặc biệt chỉ có ở Indonesia: rồng Komodo. Đây được mệnh danh là loài thằn lằn khổng lồ với kích thước lớn nhất so với các loài thằn lằn khác. Chiều dài cơ thể nó có thể lên đến 3m. Ảnh: National Geographic
Một thợ lặn đang khám phá dải sản hô ở đảo Manado Tua. Ảnh: National Geographic
Một thợ lặn đang khám phá dải sản hô ở đảo Manado Tua. Ảnh: National Geographic
Đền Pura Ulun Danu hay còn gọi là đền nước được xây dựng từ thế kỷ 17 thờ thần Dewi Danu. Ảnh: National Geographic
Đền Pura Ulun Danu hay còn gọi là đền nước được xây dựng từ thế kỷ 17 thờ thần Dewi Danu. Ảnh: National Geographic

Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2010

“Nấm đá” trong kiến trúc Phou Asa (Lào)

Trên một đỉnh đồi cao ở làng Kiet Ngong thuộc huyện Phatoumphone tỉnh Champasak, Lào, kiến trúc Phou Asa trở thành một trong những điểm nhấn độc đáo về văn hoá ở vùng Nam Lào bởi lối xây thành trông giống như những cây nấm bằng đá khổng lồ vươn mình lên trời cao.
Từ Pakse, thủ phủ của tỉnh Champasak, nơi hội tụ những vẻ đẹp đặc sắc nhất về văn hoá, tự nhiên của bốn tỉnh Nam Lào, mất khoảng một giờ rong ruổi trên tỉnh lộ 13 là đến vạt rừng phòng hộ quốc gia Xe Pian, nơi có làng săn voi nổi tiếng nhất ở Lào là Kiet Ngong. Cũng là nơi kiến trúc cổ Phou Asa toạ lạc trong rừng già, trên đỉnh một ngọn núi đá cao giữa rừng.
Ngôi đền cổ giờ chỉ còn lại bức tường đá cùng những cửa sổ thông gió

Từ làng Kiet Ngong, với khoảng một giờ đi bộ men theo đường mòn trong rừng, sẽ đến một ngọn núi đá cao nổi bật lên giữa bốn bề rừng xanh. Và ở điểm cao nhất của ngọn núi là những trụ đá lớn, tròn vành vạnh, với kích cỡ từ hai đến ba người ôm, được xếp lại từ vô vàn những phiến đá nhỏ có chiều cao 2 – 3m. Trên đỉnh của những trụ đá tròn ấy là một phiến đá sa thạch lớn hơn vòng tròn của trụ đá, được xếp đè lên trên, nhìn xa xa, từng trụ đá thẳng hàng, với chóp đỉnh bè bè trông như những cây nấm mọc lên từ núi đá.
Kiến trúc Phou Asa  gắn liền với yếu tố lịch sử đậm nét của những người nông dân vùng Champasak.
Ngày xưa, ở làng Kiet Ngong có một nhà sư tên là Sa, được cử sang Siam (Thái Lan bây giờ) để học những kiến thức tân tiến. Sau nhiều năm, nhà sư trở về làng và mang theo một chiếc gương ma thuật. Ông tụ tập dân làng lại và biểu diễn cho người làng xem sự kỳ diệu của chiếc gương. Nhà sư Sa bỏ một ít lá khô, để ánh nắng trời phản chiếu qua gương khiến những lá khô bốc cháy khiến dân làng vô cùng kinh ngạc và thán phục, và tin rằng nhà sư này là một vị Phật sống, ông được mọi người kính trọng và cung tiến nhiều phẩm vật như hoa, trầm hương, đèn cầy…
Những trụ đá liền kề tạo nên bức thành độc đáo trong kiến trúc Phou Asa.

Vào thời điểm ấy, dân làng thường phải chịu sức ép nặng nề về thuế khoá và bị bóc lột sức lao động từ những chúa đất tàn bạo. Nhà sư Sa quyết định tập hợp dân làng để chống lại những thế lực gian ác đó. Và vào năm 1815, nhà sư Sa quyết định chuẩn bị cho cuộc chiến, ông tập hợp dân làng lên một ngôi đền nhỏ linh thiêng trên đỉnh núi đá, được người dân gọi là Phou Ai Sa nghĩa là “núi ông Sa” – nói gọn là Phou Asa – dạy người dân học đấu kiếm, cưỡi voi, cưỡi ngựa, và những thế võ cận chiến.
Sau thời gian dài bí mật luyện võ nghệ, vị sư Sa quyết định lãnh đạo người dân làm cuộc khởi nghĩa, đánh bại các lãnh chúa vùng Champasak và giành chiến thắng vẻ vang, giải phóng áp bức cho người dân nghèo cả vùng rộng lớn Champasak. Đó là câu chuyện lịch sử liên quan đến khu đền cổ trên đỉnh núi ông Sa.
Riêng về góc độ kiến trúc, Phou Asa là một khu đền hoàn chỉnh, được dựng trên nền đá bằng phẳng của đỉnh núi, với những hàng trụ cột khổng lồ được kiến thiết vòng quanh tạo thành tường rào bảo vệ, bên trong thành có một tháp Phật, cạnh đó – ở trung tâm của thành – là ngôi đền lớn được bao quanh bởi những cây hoa Chămpa cổ thụ.
Khác hẳn với lối kiến trúc xây dựng Angkor là sử dụng những phiến sa thạch lớn, với những mảng điêu khắc chi tiết đi kèm. Ở Phou Asa, cũng với chất liệu duy nhất là đá, nhưng đá dùng xây dựng Phou Asa có kích cỡ nhỏ, mỗi viên mỏng bằng hai bàn tay chắp lại, mang nhiều độ dài ngắn khác nhau. Điểm đặc biệt là kiến trúc Phou Asa không sử dụng chất kết dính mà chỉ là những viên đá được xếp chồng chéo lên nhau theo những hình thù nhất định.
Tồn tại qua hàng thế kỷ, những trụ đá phủ đầy rêu mốc với thời gian

Chân tường thành xếp vuông vức, vững chãi làm nền cho những trụ thành hình tròn được xếp lên trên. Khu đền cũng được xếp bằng những phiến đá với tường đền dày đến hơn 0,5m. Dù ngày nay khu đền đã bị sụp đổ khá nhiều, nhưng vẫn nhận ra nét kiến trúc độc đáo của đền, với cửa thông gió, và phân chia thành những gian phòng riêng biệt dùng làm nơi thờ tự của những tín đồ Phật giáo quanh vùng.
Tồn tại sau hàng trăm năm, di tích kiến trúc độc đáo ở Phou Asa dù bị hư hại khá nhiều, có những trụ cột bị biến dạng cong vẹo, sụp đổ theo thời gian, nhưng tổng thể khu kiến trúc vẫn còn khá hoàn chỉnh để hậu thế hôm nay có một cái nhìn bao quát về một khu thành trì vừa là nơi thờ cúng của những người sùng đạo vừa là nơi khởi nguồn cuộc đấu tranh của nông dân chiến thắng những thế lực tàn bạo.
Phou Asa được Lào công nhận là di sản quốc gia từ ngày 13.10.1993. Lối xây dựng kỳ lạ trong kiến trúc Phou Asa cho đến ngày nay vẫn là câu hỏi lớn với các nhà khảo cổ. Riêng với những người yêu thích sự khám phá, Phou Asa là điểm đến lý tưởng, bởi ngoài những di chỉ mang đậm dấu ấn văn hoá, lịch sử là những trụ đá của thành cổ ngày xưa, còn là những chuyến băng rừng Xe Pian thú vị, hay tìm hiểu đời sống của những chàng trai của làng Kiet Ngong với nghề săn voi rừng truyền thống có từ ba thế kỷ qua. Rong ruổi đường rừng cùng những chú voi đã được thuần hoá cũng góp phần cho chuyến đi đến Phou Asa thêm phần hấp dẫn và đáng nhớ với lữ khách phương xa.
Kiến trúc “nấm đá” ở Phou Asa là điểm nhấn độc đáo của toàn khu đền Qua thời gian, nhiều cây “nấm đá” đã sụp đổ

Vẻ đẹp vườn Nhật Bản

Vườn Nhật là kiểu vườn cảnh truyền thống của đất nước mặt trời mọc. Nó mang đặc trưng nổi bật đó là một tập hợp ngăn nắp của các vật thể thiên nhiên thu nhỏ qua bàn tay sắp xếp của con người.
Đó là một tảng đá được làm trông dáng như một quả núi, hay đất đắp thành những quả đồi hoặc những cây được uốn làm cho giống như cây cổ thụ…, xung quanh là một hồ nước nhân tạo có những hòn đảo giả. Ở trong vườn, cây, cỏ, lá, hoa, đá, nước và cá đều được coi trọng, thiếu một thứ có lẽ sẽ không còn là vườn Nhật.

Vườn Nhật mang đặc trưng nổi bật đó là tập hợp ngăn nắp của các vật thể thiên nhiên thu nhỏ qua bàn tay của con người

Ở vườn Nhật cũng có những yếu tố mang đậm nét tiêu biểu, đó là trà thất, thạch đăng lung, thủy bồn, cá cảnh... Đặc biệt ở vườn Nhật yếu tố thời gian luôn là vấn đề tiên quyết, thời gian ở đây như được ngưng đọng và rêu phong phủ kín những lối về.

Vườn Nhật mang đậm ảnh hưởng của Thiền. Nhiều vườn Nhật có cách bài trí với những hàm ý sâu xa của Thiền tông. Một phần vẻ đẹp của sân vườn Nhật Bản diển đạt biểu tượng của niềm tin tôn giáo vào đạo Phật và đạo thần Nhật Bản (Shinto).
 
Một phần vẻ đẹp của sân vườn Nhật Bản diển đạt biểu tượng của niềm tin tôn giáo vào đạo Phật và đạo thần Nhật Bản (Shinto).

Các loại vườn Nhật Bản
Vườn đá ( Karesansui), kiểu vườn Nhật Bản mà người ta dùng đá, sỏi, cát sắp xếp lại tạo thành những hình gợi nên cảm giác sông, hồ, biển cả với núi đá, hòn đảo nhô lên, thường được người phương Tây thường gọi kiểu vườn này là vườn Thiền. Ngoài ra còn các loại vườn: Cha Niwa or Roji: Sân vườn trà đạo, Tsubo Niwa: Sân vườn nhà, Tsukiyama: Sân vườn dành cho đi dạo (Đây là loại sân vườn lớn), Kaiyu-Shikien: Sân vườn cũng dành cho đi dạo, loại sân vườn này ngày nay hầu hết đều là công viên.

Hiện có ba vườn Nhật nổi tiếng nhất Nhật Bản, đó là Vườn Kenroku ở thành phố Kanazawa (Ishikawa), Vườn Koraku ở thành phố Okayama và Vườn Kairaku ở thành phố Mito. Ở Nhật Bản, ba vườn này nổi tiếng vì độ lớn của chúng. Đối với người nước ngoài, những vườn Nhật nổi tiếng là những vườn ở các ngôi chùa và cung điện cổ của Nhật như vườn chùa Jisho, cung điện Nijo, chùa Rokuon, chùa Ryoan. ..

Nguyên tắc thiết kế


Thiết kế vườn Nhật Bản dựa trên ba nguyên tắc: tỉ lệ thu nhỏ, chủ nghĩa tượng trưng quang cảnh vay mượn.

Sân vườn được thu lại theo một tỉ lệ nhỏ đại diện cho quang cảnh và những địa điểm nổi tiếng trong một không gian nhỏ và đẹp. Cảnh đồi núi và sông được thu nhỏ lại bằng cách dùng đá, cát và sỏi.

Chủ nghĩa tượng trưng được sử dụng hầu hết trong mỗi sân vườn Nhật Bản. Cát hay sỏi được cào tạo ra dáng những con sông, một khối đá và đá cuội có thể biểu tượng cho những hòn đảo nhỏ.

Vay mượn cảnh quan nghĩa là sử dụng thu nhỏ một cảnh quan và cây trồng đã tồn tại để bổ sung cho vườn. Thiết kế vườn làm theo cách này cũng có nghĩa là một phong cảnh hiện hữu sẽ là phần của thiết kế chung.


Dưới đây là những mẫu vườn Nhật nổi tiếng tại đất nước mặt trời mọc và các nước khác nhau trên thế giới: